- 29/05/2014 11:18 - 1561 lượt xem
- Thích | 0 yêu thích
- Chia sẻ
- 0 bình luận

Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây mắc bệnh và tử vong ở trẻ em. Năm 1980 có 5 triệu trẻ em trên thế giới tử vong do tiêu chảy, đến năm 1999 giảm xuống còn 2 triệu nhờ các biện pháp cải thiện về vệ sinh và bù nước bằng đường uống.
Nguyên nhân gây tiêu chảy
Có trên 20 tác nhân gây tiêu chảy được phân thành 4 nhóm như sau:
- Virus: có 40% trường hợp tiêu chảy nhập viện do virus ở các nước phát triển và đang phát triển.
- Ký sinh trùng: cũng gây tiêu chảy nhưng ít gặp hơn
- Vi khuẩn: gây tiêu chảy ngày một ít đi ở các nước phát triển
- Ngộ độc: ít gặp
Dù do nguyên nhân nào, về cơ chế các tác nhân trên đều tấn công niêm mạc ruột gây tổn thương hàng rào niêm dịch, hủy hoại niêm mạc ruột. Hệ quả tất yếu là làm rối loạn cơ chế hấp thu muối và nước của ruột gây mất nước và chất điện giải, cuối cùng hủy hoại toàn bộ tế bào ruột.
Tại sao rối loạn chức năng ruột lại gây hậu quả nghiêm trọng đến như vậy? Đó là vì ruột của người lớn khỏe mạnh chứa độ 8 lít dịch mỗi ngày. Khi qua khỏi ruột non đến van hồi manh tràng (ileocecal valve) chỉ còn 600ml, đến hậu môn còn 100ml. Vậy ruột non và ruột già hấp thu tổng cộng 99% lượng dịch có trong ruột, trong đó ruột non hấp thu đến 93%. Điều đó chứng tỏ là ruột, nhất là ruột non, đóng vai trò rất quan trọng để giữ lại lượng dịch cần thiết cho cơ thể. Rối loạn hấp thu nước ở ruột non gây mất nước trầm trọng và đó là nguyên nhân dẫn đến tử vong do tiêu chảy. Do đó, bảo vệ niêm mạc ruột là yêu cầu không thể thiếu trong điều trị tiêu chảy.
Nguyên tắc điều trị tiêu chảy
gồm có:
- Bù nước và chất điện giải bằng ORESOL
- Tái lập hàng rào bảo vệ niêm mạc ruột: diosmectie (Smecta)
- Loại trừ tác nhân gây bệnh
- Điều trị triệu chứng: Thuốc chống co thắt ruột…
Bù nước và chất điện giải là tối cần thiết cho tất cả bệnh nhân tiêu chảy. Loại trừ tác nhân gây bệnh bằng kháng sinh không phải là biện pháp được dùng thường xuyên. Kháng sinh được chỉ định cho các trường hợp tiêu chảy nặng, phân có máu như tiêu chảy do Salmonella, Shigella dysenteriae. Tiêu chảy nước do rotavirus - loại tiêu chảy rất phổ biến cho trẻ dưới 5 tuổi - không cần dùng kháng sinh. Các thuốc chống co thắt ruột chỉ được phép dùng trong 1 số ít ca tiêu chảy nhẹ nhưng chống chỉ định cho trẻ em và trong các trường hợp tiêu chảy có sốt, phân có đàm máu do làm giảm tống xuất vi trùng và độc tố khỏi ruột làm bệnh nặng thêm. Các thuốc loại probiotic chủ ỵếu để dự phòng và điều trị tiêu chảy do sử dụng kháng sinh.
Tái lập hàng rào bảo vệ niêm mạc ruột là ưu tiên thứ 2 sau bồi hoàn nước và chất điện giải. Các chất bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa không chỉ để điều trị mà còn để phòng ngừa tiêu chảy dù do nguyên nhân gì, cho người lớn và cả trẻ em, cho tiêu chảy cấp và cả tiêu chảy mạn… Đó là “sứ mệnh” của diosmectite!
* Tác dụng bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa của diosmectite nhờ 2 tác dụng: bao phủ và hấp phụ
-Tác dụng bao phủ rộng: Diosmectite là alumina silicate có công thức hóa học: Si8Al4O20(OH)2. Diosmectite có cấu trúc phiến, được cấu tạo bởi những phân tử rất nhỏ độ 1-3mm. Mỗi phiến gồm 3 lớp: 2 lớp silica ở bề mặt, 1 lớp alumina ở giữa. Nhờ cấu trúc lớp và độ nhày cao nên diosmectite có khả năng bao phủ rộng niêm mạc ruột 100m2/1g bột diosmectite.
Tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột của diosmectite gia tăng nhờ khả năng làm tăng số lượng và chất lượng chất nhầy. Bằng cách tương tác với glycoprotein của chất nhày, diosmectite làm tăng độ dính và tăng tuổi thọ của chất nhày. Sử dụng diosmectite đã kéo dài độ dày của màng nhày hơn 6 giờ sau khi uống so với nhóm chứng.
8 Tác dụng hấp phụ cao: Do có cấu trúc ion và bản chất điện cực đặc hiệu, cộng thêm diện tích bao phủ bề mặt rộng nên diosmectite có thể gắn kết với nhiều tác nhân gây bệnh như vi trùng, virus, độc tố, muối mật… nên hạn chế tác hại do các tác nhân này gây nên.
Nhờ tính chất bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa mà chỉ định của smecta không chỉ giới hạn trong điều trị tiêu chảy mà còn mở rộng điều trị đến các chứng đau do bệnh ở thực quản, dạ dày, ruột như viêm thực quản, hội chứng kích thích ruột…
* Dược động học của diosmectite: Diosmectite không hấp thu qua màng ruột nên không bị chuyển hóa và được thải trừ qua phân. Như vậy diosmectite chỉ tác động trong lòng ruột, không vào máu. Chính tác dụng tại chỗ này là ưu điểm rất lớn của diosmectite so với các thuốc trị tiêu chảy khác. Điều đó làm diosmectite dễ dung nạp nhất trong các thuốc trị tiêu chảy.
* Hiệu quả điều trị: Hiệu quả điều trị được chấp nhận khi có bằng chứng lâm sàng đủ sức thuyết phục. Chẳng hạn probiotic được sản xuất từ nhiều giống loài vi khuẩn nên ta chỉ chọn các chế phẩm probiotic có đủ dữ kiện nghiên cứu lâm sàng như probiotic sản xuất từ Lactobacillus GG, Saccharomyces boulardii… Diosmectite được tin cậy trong giới y khoa suốt 20 năm qua là nhờ có nhiều nghiên cứu đáng tin cậy được tiến hành và đã chứng minh được hiệu quả điều trị tiêu chảy trên trẻ em và người lớn. Đó là các nghiên cứu đa trung tâm, mù đôi, ngẫu nhiên và có so sánh với nhóm chứng như nghiên cứu Mackour và nghiên cứu Dupont trên trẻ em, nghiên cứu Khederi trên người lớn… Tất cả các nghiên cứu đó đều xác nhận tính hiệu quả trị tiêu chảy của diosmectite về các tiêu chí: rút ngắn thời gian tiêu chảy, giảm số lần tiêu chảy, giảm tổng lượng phân và tính dung nạp cao.
* Tính dung nạp: Như đã nói ở phần dược động học, diosmectie không hấp thu qua màng ruột nên tác dụng phụ nếu có chỉ khu trú ở ruột khi dùng liều cao như đầy hơi, nôn mữa… Đó là các tác dụng phụ nhẹ, tự khỏi, không cần ngừng thuốc. Diosmectite không ảnh hưởng đến nhu động ruột bình thường ở liều điều trị. Trái lại, phần lớn các thuốc trị tiêu chảy khác đều hấp thu vào máu gây tác dụng toàn thân có khi nguy hiểm. Chẳng hạn thuốc chống có thắt như loperamid có thể gây táo bón, tăng sinh vi khuẩn và phình đại tràng nhiễm độc nếu dùng không đúng chỉ định. Kháng sinh quinolon gây hư sụn khớp cho con vật còn non, sulfamid như Bactrim gây chứng vàng da nhân não nên 2 thuốc này không được dùng cho trẻ em và phụ nữ mang thai. Trái lại, với kinh nghiệm sử dụng Smecta® diosmectite trên 20 năm của Bác sĩ/Dược sĩ không thấy bất kỳ tác dụng bất lợi nào cho những đối tượng này. Ghi nhận về tính dung nạp của diosmectite trong nghiên cứu Dupont: Không có khác biệt về xuất độ các tác dụng có hại giữa nhóm diosmectite và placebo.
Mỗi thuốc trị tiêu chảy có tác dụng khác nhau nên có vai trò khác nhau trong điều trị tiêu chảy. Hầu hết thuốc trị tiêu chảy đều hấp thu vào máu nên chỉ định bị giới hạn cho 1 số đối tượng vì tác dụng phụ. Thí dụ, thuốc chống co thắt chỉ được dùng 1 cách thận trọng trong tiêu chảy nước để giảm triệu chứng đau bụng nhưng không được dùng cho tiêu chảy lỵ. Diosmectite không hấp thu vào máu, tác động khu trú tại ruột, dung nạp rất tốt nên an toàn cho mọi lứa tuổi. Nhờ tác dụng bao phủ rộng và hấp phụ cao diosmectite bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa chống các tác nhân xâm hại nên được dùng trị tiêu chảy cấp và mạn cho cả người lớn và trẻ em. An toàn và hiệu quả là 2 ưu điểm lớn của diosmectite nên được tổ chức Quốc tế uy tín như Hiệp hội Tiêu hóa – Gan – Dinh dưỡng Nhi Châu Âu (ESPGHAN) khuyến cáo sử dụng như 1 điều trị hỗ trợ hiệu quả với ORESOL đem lại hiệu quả đáng kể về giảm lượng phân và thu ngắn thời gian tiêu chảy, giúp giảm chi phí điều trị tiêu chảy cấp.